Wiki

Glory (album của Britney Spears)

Glory

Rapper G-Eazy (trong hình) là nghệ sĩ góp giọng trong “Make Me…”.

Ngày 15 tháng 7 năm 2016, Spears phát hành đĩa đơn đầu tiên cho album, “Make Me…”, trên iTunes Store. Đây là một bản mid-tempo R&B với sự tham gia góp giọng của rapper người Mỹ G-Eazy. Nó ra mắt và đạt vị trí thứ 17 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn có thứ hạng ra mắt cao thứ 6 trong sự nghiệp của cô trên bảng xếp hạng và hit thứ 34 lọt vào Hot 100. Video ca nhạc của “Make Me…” được ra mắt trên Vevo của Spears vào ngày 5 tháng 8 năm 2016.

Một phiên bản phối lại của “Slumber Party” với sự tham gia góp giọng của Tinashe đã được phát hành vào ngày 18 tháng 11 năm 2016 như là đĩa đơn thứ hai trích từ album. Một video ca nhạc của bài hát cũng được ra mắt cùng ngày. Nó đạt vị trí thứ 86 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành bài hát thứ 35 của Spears lọt vào Hot 100.

Đĩa đơn quảng bá

“Private Show” đã được phát hành như là đĩa đơn quảng bá đầu tiên cùng với việc đặt trước album vào ngày 4 tháng 8 năm 2016. Nó cũng được lấy làm tên thương hiệu cho dòng nước hoa mới nhất của Spears. Bài hát được viết bởi Britney Spears, Carla Williams, Tramaine Winfrey và Simon Smith. “Clumsy” được phát hành như là đĩa đơn quảng bá thứ hai vào ngày 11 tháng 8. Đĩa đơn quảng bá thứ ba, “Do You Wanna Come Over?” được phát hành vào ngày 18 tháng 8.

Quảng bá



Spears trình diễn tại Lễ hội Âm nhạc Apple tại London.

Ngày 26 tháng 7, Spears trả lời những câu hỏi của khán giả trên trang Tumblr cá nhân. Vào ngày 3 tháng 8 năm 2016, Spears xuất hiện trên Jimmy Kimmel Live!, để chơi khăm chủ trì chương trình Jimmy Kimmel bằng việc nhảy ngẫu hứng “Make Me…”, cùng với các vũ công nam, trên giường ngủ của Kimmel vào ban đêm. Ngày 5 tháng 8, Spears tham gia phỏng vấn trên chương trình phát thanh On Air With Ryan Seacrest, nơi cô bàn luận về quá trình thực hiện album. Vào ngày 18 tháng 8 năm 2016, Spears thông báo rằng cô sẽ biểu diễn “Make Me…” tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2016. Màn trình diễn được công bố sau khi hai buổi diễn của Britney: Piece of Me bị huỷ bỏ, mà ban đầu được dự kiến diễn ra hai ngày trước lễ trao giải. Nó đánh dấu sự tái xuất trên sân khấu lễ trao giải này của cô sau gần 10 năm, kể từ màn trình diễn năm 2007 với “Gimme More”. Ngày 24 tháng 8, Spears trả lời phỏng vấn trên Scott Mills của BBC.. Vào ngày 25 tháng 8, Spears xuất hiện trong chuyên mục “Carpool Karaoke” trên The Late Late Show with James Corden. Hai ngày sau đó, Spears giải đáp những câu hỏi của khán giả trong chương trình Most Requested Live.. Ngày 1 tháng 9, Spears xuất hiện lần đầu tiên sau 15 năm trên Today Show để trả lời phỏng vấn và trình diễn “Make Me…” và “Do You Wanna Come Over?”. Ngày 8 tháng 9, Spears xuất hiện trên The Ellen DeGeneres Show. Ngày 24 tháng 9 năm 2016, Spears trình diễn mở màn trong ngày thứ hai của Lễ hội âm nhạc iHeartRadio 2016, được tổ chức tại T-Mobile Area ở Las Vegas. Ngày 27 tháng 9, Spears sẽ trình diễn tại Lễ hội âm nhạc Apple. Ngày 1 tháng 10, Spears được lên kế hoạch xuất hiện và trình diễn trên The Jonathan Ross Show, đánh dấu hoạt động đầu tiên của cô trên truyền hình Anh quốc kể từ năm 2008. Ngày 2 tháng 12, Spears biểu diễn tại KIIS-FM Jingle Ball. Nữ ca sĩ nhận được một chiếc bánh sinh nhật và trình diễn “Slumber Party” với Tinashe. Một ngày sau, cô biểu diễn tại Triple Ho Show.

Đánh giá chuyên môn


Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic 71/100
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic
Boston Globe (tích cực)
The Daily Telegraph
Entertainment Weekly B
Los Angeles Times (tích cực)
NME 3/5
New York Times (trái chiều)
Rolling Stone
Slant Magazine
Vice A–

Glory nhận được nhiều đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc. Sal Cinquemani của Stant Magazine đánh giá 3.5 sao trên 5 sao cho album, gọi giai điệu của album là “táo bạo và trưởng thành”, nhưng lại chỉ trích “Private Show”, gọi nó là “quả bom xịt duy nhất của album”. Maura Johnston của The Boston Globe miêu tả album giống như “một nguồn năng lượng không kiềm chế” và “hoạt động theo cách riêng của nó”. Neil McCormick từ The Daily Telegraph ca ngợi khâu sản xuất của album, và lưu ý rằng “mỗi bài hát đều nghe có vẻ như một đĩa đơn”. Trong một động thái mang tính chất trái chiều, Jon Parales từ The New York Times cho rằng Glory “khá nhàm chán, đơn điệu”, nhưng tán dương chất giọng dứt khoát của cô. Mesfin Fekadu từ Associated Press ghi nhận Spears “đã đánh dấu bước ngoặt nhảy vào thời cuộc [thị trường nhạc R&B]”, nhưng tuyên bố rằng những bài hát nghe như không phải là “Britney đích thực”. Ngược lại, Nolan Feeney từ Entertainment Weekly chỉ ra rằng những bài hát trong album như nghe “giống như cái nhìn thoáng qua của Britney – thị hiếu âm nhạc và giọng hát của cô – không thực sự hoàn hảo về mọi mặt”.

Đặc biệt hơn, chất giọng của Spears được giới chuyên môn khá đề cao. Los Angeles Times mô tả giọng hát của nữ ca sĩ là một “cải tiến lớn” so với Britney Jean, trong đó lưu ý rằng “cách hát được thể hiện rất tự nhiên […] làm cho Glory tốt đến vậy”. The Boston Globe cảm thấy Spears đã “đắm chìm hoàn toàn vào màn trình diễn thanh nhạc của mình” trong album, cũng như nhận xét rằng: “Glory là một album nhạc pop theo cách riêng của nó, một phần là nhờ sức nóng của chính bản thân ca sĩ thể hiện, sau nhiều năm, Spears vẫn cai trị đế chế nhạc pop của mình”. The New York Times nhận thấy rằng nó nghe như Spears đã “tham gia nhiều hơn, thực tại hơn, nhiều hơn những gì cô ấy có trong gần một thập kỷ qua”. Rolling Stone so sánh một cách tích cực giọng hát của Spears với những gì cô thể hiện trong In the Zone, cho rằng “cô đã không khuấy động giọng hát của mình một cách khéo léo kể từ những ngày tháng của “Toxic””. Entertainment Weekly mô tả album sở hữu “giọng hát tràn đầy năng lượng nhất của cô” trong hơn một thập kỷ qua và nhận thấy rằng chất giọng của Spears nghe như “thực tại hơn và nhiệt tình hơn sau nhiều năm”. Với suy nghĩ tương tự, Idolator mô tả Spears nghe như “rõ ràng hơn, tham gia nhiều hơn và nổi bật hơn sau nhiều năm”. Slant Magazine ghi nhận Spears với một “sự sẵn sàng để căng tràn giọng hát và khám phá những địa hình âm thanh mới”, nhưng cũng nhận xét ​​rằng điều này lại “làm nổi bật những thiếu sót” của cô.

Danh sách cuối năm

Glory đã được liệt kê trong danh sách những album xuất sắc của năm bởi nhiều tổ chức âm nhạc.

Đơn vị Thành tựu Năm Xếp hạng Nguồn
Slant Magazine 25 Album xuất sắc nhất của năm 2016 2016 10
Digital Spy 20 Album xuất sắc nhất của năm 2016 11
Fuse Album xuất sắc nhất của năm 2016 12
AOL Album xuất sắc nhất của năm 2016 5
Rolling Stone 20 Album Pop xuất sắc nhất của năm 2016 5

Diễn biến thương mại


Glory ra mắt ở vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard 200, với 111.000 đơn vị album được tiêu thụ trong tuần đầu phát hành, bao gồm 88.000 bản xuất phát từ doanh thu thuần. Tại Vương quốc Anh và Ireland, nó lần lượt ra mắt ở vị trí thứ 2 và thứ nhất, trở thành album có thứ hạng cao nhất của Spears tại những quốc gia này kể từ Blackout (2007). Tại Đức, album đạt vị trí thứ 3 trong tuần đầu phát hành, trở thành album xếp hạng cao nhất của cô trong 13 năm qua, kể từ In the Zone (2003). Tại Ý, album đứng vị trí số một, trở thành album đầu tiên của cô làm được điều này.

Danh sách bài hát


Bản tiêu chuẩn (CD và LP)
STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. “Invitation”
  • Britney Spears
  • Julia Michaels
  • Justin Tranter
  • Nick Monson
  • Monson
  • Mischke
3:20
2. “Do You Wanna Come Over?”
  • Mattias Larsson
  • Robin Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Sandy Chila
Mattman & Robin 3:23
3. “Make Me…”
  • Spears
  • Burns
  • Joe Janiak
  • Gerald Gillum
  • Burns
  • Mischke
3:51
4. “Private Show”
  • Spears
  • Carla Marie Williams
  • Tramaine Winfrey
  • Simon Smith
  • Tramaine “Young Fyre” Winfrey
  • Mischke
3:55
5. “Man on the Moon”
  • Jason Evigan
  • Ilsey Juber
  • Phoebe Ryan
  • Sterling Fox
  • Marcus Lomax
  • Evigan
  • Dan Book
  • Pat Thrall
3:47
6. “Just Luv Me”
  • Daniel Omelio
  • Magnus August Høiberg
  • Michaels
  • Cashmere Cat
  • Robopop
  • Mischke
4:01
7. “Clumsy”
  • Talay Riley
  • Warren Felder
  • Alex Niceford
  • Oak Felder
  • Alex Nice
  • Mischke
3:03
8. “Slumber Party”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Mattman & Robin
  • Mischke
3:34
9. “Just like Me”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Monson
  • Monson
  • Mischke
2:45
10. “Love Me Down”
  • Andrew Goldstein
  • Evan Kidd Bogart
  • Jesse St. John
  • Jessica Karpov
  • Andrew “Goldstein” Goldstein
  • Mischke
3:19
11. “Hard to Forget Ya”
  • Oscar Gorres
  • Ian Kirkpatrick
  • Brittany Coney
  • Denisia Andrews
  • Edward Drewett
  • Gorres
  • Kirkpatrick
  • Mischke
3:30
12. “What You Need”
  • Spears
  • Williams
  • Winfrey
  • Smith
  • Winfrey
  • Mischke
3:08
Bản tiêu chuẩn (nhạc số và trực tuyến)
STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. “Invitation”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Monson
  • Monson
  • Mischke
3:20
2. “Make Me…”
  • Spears
  • Burns
  • Janiak
  • Gillum
  • Burns
  • Mischke
3:51
3. “Private Show”
  • Spears
  • Williams
  • Winfrey
  • Smith
  • Winfrey
  • Mischke
3:55
4. “Man on the Moon”
  • Evigan
  • Juber
  • Ryan
  • Fox
  • Lomax
  • Evigan
  • Book
  • Thrall
3:47
5. “Just Luv Me”
  • Omelio
  • Høiberg
  • Michaels
  • Cashmere Cat
  • Robopop
  • Mischke
4:01
6. “Clumsy”
  • Riley
  • Warren Felder
  • Niceford
  • Oak Felder
  • Alex Nice
  • Mischke
3:03
7. “Do You Wanna Come Over?”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Chila
Mattman & Robin 3:23
8. “Slumber Party”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Mattman & Robin
  • Mischke
3:34
9. “Just like Me”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Monson
  • Monson
  • Mischke
2:45
10. “Love Me Down”
  • Goldstein
  • Bogart
  • St. John
  • Karpov
  • Goldstein
  • Mischke
3:19
11. “Hard to Forget Ya”
  • Gorres
  • Kirkpatrick
  • Coney
  • Andrews
  • Drewett
  • Gorres
  • Kirkpatrick
  • Mischke
3:30
12. “What You Need”
  • Spears
  • Williams
  • Winfrey
  • Smith
  • Winfrey
  • Mischke
3:08
Bản tiêu chuẩn (nhạc số và trực tuyến) – phát hành gốc (trước ngày 16 tháng 11 năm 2016)
STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. “Invitation”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Monson
  • Monson
  • Mischke
3:20
2. “Make Me…”
  • Spears
  • Burns
  • Janiak
  • Gillum
  • Burns
  • Mischke
3:51
3. “Private Show”
  • Spears
  • Williams
  • Winfrey
  • Smith
  • Winfrey
  • Mischke
3:55
4. “Man on the Moon”
  • Evigan
  • Juber
  • Ryan
  • Fox
  • Lomax
  • Evigan
  • Book
  • Thrall
3:47
5. “Just Luv Me”
  • Omelio
  • Høiberg
  • Michaels
  • Cashmere Cat
  • Robopop
  • Mischke
4:01
6. “Clumsy”
  • Riley
  • Warren Felder
  • Niceford
  • Oak Felder
  • Alex Nice
  • Mischke
3:03
7. “Do You Wanna Come Over?”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Chila
Mattman & Robin 3:23
8. “Slumber Party”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Mattman & Robin
  • Mischke
3:34
9. “Just like Me”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Monson
  • Monson
  • Mischke
2:45
10. “Love Me Down”
  • Goldstein
  • Bogart
  • St. John
  • Karpov
  • Goldstein
  • Mischke
3:19
11. “Hard to Forget Ya”
  • Gorres
  • Kirkpatrick
  • Coney
  • Andrews
  • Drewett
  • Gorres
  • Kirkpatrick
  • Mischke
3:30
12. “What You Need”
  • Spears
  • Williams
  • Winfrey
  • Smith
  • Winfrey
  • Mischke
3:08
Track bổ sung bản cao cấp, LP và bản tiêu chuẩn tại Nhật
STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
13. “Better”
  • Spears
  • Michaels
  • Tranter
  • Michael Tucker
  • BloodPop
  • Mischke
3:10
14. “Change Your Mind (No Seas Cortés)”
  • Larsson
  • Fredriksson
  • Michaels
  • Tranter
  • Mattman & Robin
  • Mischke
3:00
15. “Liar”
  • Evigan
  • Breyan Isaac
  • Danny Parker
  • Nash Overstreet
Evigan 3:17
16. “If I’m Dancing”
  • Kirkpatrick
  • Simon Wilcox
  • Chantal Kreviazuk
  • Kirkpatrick
  • Mischke
3:24
17. “Coupure Électrique”
  • Spears
  • Lance Eric Shipp
  • Nathalia Marshall
  • Rachael Kennedy
  • Shipp
  • Mischke
2:21
Tổng thời lượng: 56:36
Track bổ sung tại Nhật
STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
18. “Mood Ring”
  • Dijon McFarlane
  • Nicholas Audino
  • Te Whiti Warbrick
  • Lewis Hughes
  • Jon Asher
  • Melanie Fontana
  • DJ Mustard
  • Twice as Nice
  • Asher
3:49
Tổng thời lượng: 60:25
Chú thích
  • ^[a] – sản xuất phần giọng hát
  • ^[b] – hiệu chỉnh và sản xuất phần giọng hát
  • ^[c] – hỗ trợ sản xuất phần giọng hát
  • ^[d] – đồng sản xuất

Xếp hạng


Xếo hạng tuần

Bảng xếp hạng (2016)
  • Vị trí
  • cao nhất
Argentina (CAPIF) 5
Úc (ARIA) 4
Album Áo (Ö3 Austria) 6
Album Bỉ (Ultratop Flanders) 3
Album Bỉ (Ultratop Wallonia) 4
Brazil (ABPD) 2
Canadian Albums (Billboard) 4
Album Cộng hòa Séc (ČNS IFPI) 1
Album Đan Mạch (Hitlisten) 35
Album Hà Lan (Album Top 100) 8
Estonia (Estonian Albums Chart) 8
Album Phần Lan (Suomen virallinen lista) 8
Pháp (SNEP) 6
Đức (Offizielle Top 100) 3
Hy Lạp (IFPI Greece) 28
Album Hungaria (MAHASZ) 10
Album Ireland (IRMA) 1
Ý (FIMI) 1
Nhật Bản (Oricon) 19
Mexico (AMPROFON) 5
New Zealand (RMNZ) 8
Album Na Uy (VG-lista) 10
Album Ba Lan (ZPAV) 12
Album Bồ Đào Nha (AFP) 3
Nga (Russian Music Charts) 3
Scottish Albums (OCC) 4
Hàn Quốc (Gaon Album Chart) 26
Hàn Quốc (Gaon International Album Chart) 1
Tây Ban Nha (PROMUSICAE) 2
Thụy Điển (Sverigetopplistan) 12
Album Thụy Sĩ (Schweizer Hitparade) 4
Đài Loan (Five Music) 1
Album Anh Quốc (OCC) 2
Hoa Kỳ Billboard 200 3

Xếp hạng cuối năm

Bảng xếp hạng (2016) Vị trí
Bỉ (Ultratop Wallonia) 142
Mexico (AMPROFON) 87
Hoa Kỳ Billboard 200 172

Lịch sử phát hành


Danh sách ngày phát hành, khu vực, đinh dạng, nhãn và nguồn
Nước Ngày Định dạng Nhãn Nguồn
Toàn cầu 26 tháng 8 năm 2016
  • CD
  • tải kĩ thuật số
  • LP
  • RCA
  • Sony Music
Hàn Quốc 30 tháng 8 năm 2016 CD (bao gồm track bổ sung) Sony Music Korea
Nhật Bản 14 tháng 9 năm 2016 Sony Music Japan

Tham khảo


—end—

Back to top button