Wiki

Katy Hudson (album)

Katy Hudson

“Trust in Me” (2001)

“Trust in Me” là bài hát mang các ảnh hưởng từ dòng nhạc đương đại, pha lẫn pop rock.


Trục trặc khi nghe tập tin âm thanh này? Xem hướng dẫn.

Bản nhạc đầu tiên từ album có bao gồm những giai điệu gây “ám ảnh” kết hợp cùng những “hiệu ứng điện tử” và “âm điệu rock chắc nịch”. Với một bài hát có tiềm lực khác trong album, “Piercing” (tạm dịch: Xâm trổ) bộc lộ được sự mê đắm mà mọi người thường có với những thứ xa xỉ không cần thiết. Trong “Piercing”, Hudson có hát: “Lord, help me see the reality / That all I’ll ever need is You” (tạm dịch: “Xin Chúa, hãy giúp con nhìn thấy sự thật / Rằng mọi thứ mà con cần chính là Người”). “Last Call” được viết bởi Hudson trong khi đọc quyển sách Last Call for Help: Changing North America One Teen at a Time, được viết bởi Dawson McAllister. Về mặt âm nhạc, cô chuyển tông sang hơi hướng jazz trong bài hát này. Hudson mô tả ca khúc “Growing Pains” (tạm dịch: Những nỗi đau lớn dần) là một bài hát cho trẻ em và thanh thiếu niên, giải thích xã hội thường chia sẻ định kiến sai lầm mà xem chúng như là cá nhân không tin hoặc không biết nhiều về Thiên Chúa. Được Hudson viết năm cô học lớp 8, bài hát “Spit” (tạm dịch: Cái xiên) được cô diễn tả về những điều giả tạo mà cô gặp phải ở ngôi trường theo Tôn giáo mà cô theo học lúc đó.

“Faith Won’t Fail” (tạm dịch: Đức tin sẽ không thất bại) được lấy cảm hứng bằng việc tin tưởng vào Kinh thánh; và Hudson nói thêm về bài hát “Search Me” (tạm dịch: Tìm tôi): “Tôi đã đấu tranh với thực tế là tôi có trách nhiệm rất lớn về việc những người khác có thể sẽ bị ảnh hưởng thông qua những gì tôi làm hoặc nói trên sân khấu. Tôi không muốn đặt để trước rằng mọi thứ đều tốt khi nó không phải. Tôi muốn nhìn nhận thực tế, nhưng vẫn muốn trao hi vọng đến mọi người”. Album kết thúc với bài hát “When There’s Nothing Left” (tạm dịch: Khi không còn gì), được mô tả là một “lời ghi tình yêu đầy tính quả quyết và trong sáng đối với Chúa”. Album được diễn tả không lấn quá nhiều vào thể loại bubblegum pop giống như những nữ ca sĩ theo chủ đề Tôn giáo lúc bấy giờ như Rachel Lampa và Jaci Velasquez.

Phát hành và quảng bá


Katy Hudson được phát hành vào ngày 8 tháng 2 năm 2001 dưới dạng cassette và sau đó được phát hành dưới dạng đĩa CD vào ngày 6 tháng 3 năm 2001, cho dù ngày phát hành của nó bị xếp nhầm trên trang mua bán trực tuyến Amazon là ngày 23 tháng 10 năm 2001. Các cửa hàng trực tuyến của Katy Hudson còn phát hành nhiều sản phẩm khác nhau có liên quan đến Hudson như dây chuyền, áo thun và áp phích. Hudson sau đó tham gia một chuyến lưu diễn cùng với Phil Joel, Earthsuit và V*Enna, trong đó Hudson trình bày ba ca khúc, có bao gồm “Search Me” và cô mặc một chiếc áo khoác bằng jean để trình diễn. Hudson cũng tổ chức một chuyến lưu diễn một mình quảng bá cho Katy Hudson khắp nước Mỹ, bắt đầu từ ngày 6 tháng 9 năm 2001 tại Texas và kết thúc vào ngày 18 tháng 11 cùng năm, tại Virginia. Chuyến lưu diễn bao gồm 46 ngày diễn.

Lịch diễn của chuyến lưu diễn quảng bá cho Katy Hudson
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
Bắc Mỹ
6 tháng 9 năm 2001 Sherman Hoa Kỳ Khán phòng trường Cao đẳng Austin
7 tháng 9 năm 2001 San Antonio Trường Đại học United Methodist Church
8 tháng 9 năm 2001 Abilene Trường Đại học Hardin–Simmons
9 tháng 9 năm 2001 Austin Nhà thờ Westlake Bible
11 tháng 9 năm 2001 Wichita Falls Nhà hát The Wichita
13 tháng 9 năm 2001 Dallas The Door
14 tháng 9 năm 2001 Norman Quán cà phê Common Ground
15 tháng 9 năm 2001 Houston Khu nhà thờ tại 1st Baptist Church-Metro
16 tháng 9 năm 2001 Bryan VFW Wall
19 tháng 9 năm 2001 Lubbock Nhà thờ Baptist
21 tháng 9 năm 2001 Bartlesville Trường Cao đẳng Bartlesville Weslyan
22 tháng 9 năm 2001 Shiloam Springs Nhà thờ chính tòa JBU
23 tháng 9 năm 2001 Jonesboro Nhà thờ First Baptist
26 tháng 9 năm 2001 Arkadelphia Trường Đại học Ouchita Baptist
28 tháng 9 năm 2001 Grove City Trường Cao đẳng Grove City (khán phòng Crawford)
29 tháng 9 năm 2001 Grantham Trường Cao đẳng Messiah (khán phòng Brewbaker)
3 tháng 10 năm 2001 Malibu Trường Đại học Pepperdine
6 tháng 10 năm 2001 Deerfield Trường Cao đẳng Trinity
7 tháng 10 năm 2001 Westbrook Westbrook Christian Church
9 tháng 10 năm 2001 Upland Trường Đại học Taylor
11 tháng 10 năm 2001 Toledo Trường Đại học Toledo
12 tháng 10 năm 2001 Dubuque Khán phòng trường Cao đẳng Emmaus Bible
13 tháng 10 năm 2001 Wilmore Trường Cao đẳng Asbury
14 tháng 10 năm 2001 Nashville Nhà hát Belcourt
15 tháng 10 năm 2001
16 tháng 10 năm 2001 Lafayette Trường Đại học Church at Purdue
18 tháng 10 năm 2001 Bloomington Sherwood Oaks Christian
20 tháng 10 năm 2001 Grand Rapids Calvin College Chapel
21 tháng 10 năm 2001 Milwaukee Crossroads Presbyterian
22 tháng 10 năm 2001 New Brighton O’Shaughnessy Education Center
23 tháng 10 năm 2001 Sioux Falls Trường Đại học of Sioux Falls
25 tháng 10 năm 2001 Colorado Springs Vanguard Church
26 tháng 10 năm 2001 Boulder Flat Irons Theater
27 tháng 10 năm 2001 Denver Trường Đại học Regis Auditorium
28 tháng 10 năm 2001 Buena Vista Mountain Heights Baptist
31 tháng 10 năm 2001 Hattiesburg William Carey College (Smith Auditorium)
1 tháng 11 năm 2001 Gainesville Florida Theater
2 tháng 11 năm 2001 Tallahassee Lawton Chiles Auditorium
4 tháng 11 năm 2001 Orlando Wesley Foundation
9 tháng 11 năm 2001 West Palm Palm Beach Atlantic College
11 tháng 11 năm 2001 Clemson Trường Đại học Clemson
12 tháng 11 năm 2001 Montgomery The Train Shed
13 tháng 11 năm 2001 Auburn Trường Đại học Auburn
16 tháng 11 năm 2001 Columbia Shandon Baptist Church
17 tháng 11 năm 2001 Elon 1st United Methodist Church of Elon
18 tháng 11 năm 2001 Harrisonburg Court Square Theater

Phản ứng ban đầu


Đánh giá chuyên môn

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic
Billboard Tích cực
Christianity Today Tích cực
Cross Rhythms
The Phantom Tollbooth

Katy Hudson nhận những đánh giá tích cực từ phía các nhà phê bình âm nhạc. Stephen Thomas Erlewine từ AllMusic phong tặng Katy Hudson 3/5 sao, khẳng định với album này, Hudson “bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Alanis Morissette”. Erlewine nhận thấy một vài đoạn lời nhạc trong album có ngụ ý gợi dục và nhìn nhận nó như “một trong những điểm thú vị nhất” trong album, khi diễn tả phần âm thanh chung của bản ghi âm này như “một loại hình khác của việc mang tính gợi dục và bị sản xuất quá tay của các rocker CCM để nhằm chứng tỏ họ mang tính đương đại”. Nhà báo Russ Breimeier Christianity Today cho một bài đánh giá tích cực về Katy Hudson, khi nhấn mạnh phong cách sáng tác của Hudson khi chúng thật sự “sâu sắc và phù hợp với sức mạnh đầy cảm xúc”. Ông cũng thấy rằng Hudson là một “tài năng trẻ” và mong muốn được nghe nhiều thêm ở cô trong những năm sau này. Đồng quan điểm, Tony Cummings từ Cross Rhythms cũng xem Hudson là một “tài năng về mặt giọng hát” và khuyên đọc giả nên nghe album này. Andy Argyrakis của The Phantom Tollbooth khẳng định việc Hudson được gắn bó với các nhà thờ giờ đây đã được “đền bù” và nói thêm rằng “Cho dù có ảnh hưởng của một chút pop đơn thuần, thế nhưng lại rất khó để bác bỏ tính chất thành thật và tính trưởng thành trong lời nhạc của cô ấy.” DEP từ Billboard cũng gọi Hudson là một tài năng và xem bản ghi âm này là một “kết cấu bao gồm các giai điệu rock tân thời bù đắp đi phần sạn và sự yếu mềm còn lại” và “đầy ấn tượng”.

Doanh số

Sau khi phát hành, Katy Hudson là một thất bại về mặt thương mại của hãng đĩa Red Hill Records, khi chỉ bán được xấp xỉ từ 100 đến 200 bản.

Sự thay đổi về mặt âm nhạc


Sau khi phát hành album không lâu, hãng đĩa Red Hill Records đã phải bị đóng cửa vì thua lỗ. Katy Hudson sau đó trở thành album mang chủ đề về Tôn giáo duy nhất của cô, trong khi cô thay đổi hướng đi sang dòng nhạc pop thịnh hành, cùng với việc đổi nghệ danh thành Katy Perry (nhằm tránh sự nhầm lẫn với nữ diễn viên Kate Hudson).

Trong lúc tiếng tăm của Perry tăng cao khi cô chuyển sang dòng nhạc thịnh hành, album này trở nên cực kì khan hiếm và được tìm kiếm rộng rãi trong cộng đồng người hâm mộ của cô, khi mà album chỉ còn được bán trên các trang mạng bán lẻ với giá cả dao động thừ 90 đến 200 đô-la Mỹ, tùy theo tình trạng của album. Trong thời gian quảng bá cho album phòng thu thứ tư của Perry, Prism (2013), cô sử dụng một chiếc xe tải được mạ vàng đi vòng quanh Los Angeles, cùng với tên của album và ngày phát hành được in thẳng lên phía ngoài xe. Trong khi được hỏi về điều mà họ tìm thấy trong chiếc xe ấy, James Montgomery từ MTV đùa rằng: “trong đó là tất cả các bản còn lại của album Katy Hudson hồi năm 2001, tất cả chúng đều sẽ bị hủy”.

Danh sách bài hát


STT Tựa đề Sáng tác Nhà sản xuất Thời lượng
1. “Trust in Me” Katy Hudson, Mark Dickson Otto Price 4:46
2. “Piercing” Hudson, Tommy Collier, Brian White Collier 4:06
3. “Search Me” Hudson, Scott Faircloff Collier 5:00
4. “Last Call” Hudson David Browning 3:07
5. “Growing Pains” Hudson, Dickson Browning 4:05
6. “My Own Monster” Hudson Browning 5:25
7. “Spit” Hudson Price 5:10
8. “Faith Won’t Fail” Hudson, Dickson Price 5:14
9. “Naturally” Hudson, Faircloff Browning 4:33
10. “When There’s Nothing Left” Hudson Browning 6:45
Tổng thời lượng: 48:11

Những người thực hiện


Được ghi lại từ những dòng ghi chú trên album Katy Hudson.

Những người thực hiện
  • Katy Perry – sáng tác (1–10), hát chính (1–10)
  • Mark Stuart – hát nền (1)
  • Mark Dickson – sáng tác (1, 5, 8)
  • Otto Price – sản xuất (1, 7, 8), tổng hợp viên (1, 7, 8), chơi bass (1, 4–10), lên chương trìn (1, 7, 8)
  • Tommy Collier – sáng tác (2), sản xuất (2, 3), đàn guitar mộc (1), kỹ sư thu âm (2, 3)
  • Brian White – sáng tác (2)
  • Scott Faircloff – sángtác (2, 9), keyboards (3)
  • David Browning – sản xuất (4–6, 9, 10), kỹ sư thu âm (4–6, 9), keyboards và lên chương trình (4–6, 9, 10), B-3 (7), chơi dương cầm (8)
Các địa điểm thu âm
  • The Velvet Elvis-Nashville, Tennessee (2–6, 9, 10)
  • House of Tom-Cool Springs, Tennessee (2, 3)
  • Sound Kitchen-Cool Springs, Tennessee (3–6, 9, 10)
  • Kong’s Cage-Franklin, Tennessee (4–6, 9, 10)

Tham khảo


Liên kết ngoài


  • Quyển sách Last Call for Help: Changing North America One Teen at a Time trên Amazon.ca, quyển sách tạo cảm hứng cho bài hát “Last Call”.

Katy Hudson (album)” là một bài viết tốt của Wikipedia tiếng Việt.
Mời bạn xem phiên bản đã được bình chọn vào ngày 24 tháng 11 năm 2015 và so sánh sự khác biệt với phiên bản hiện tại.

—end—

Back to top button