Wiki

Thế hệ Z

Thế hệ Z (tiếng Anh: Generation Z, viết tắt: Gen Z) là nhóm nhân khẩu học nằm giữa thế hệ Millennials và thế hệ Alpha. Các nhà nghiên cứu và các phương tiện truyền thông phổ biến xem khoảng thời gian từ giữa thập niên 1990 đến những năm đầu thập niên 2010 (hoặc từ năm 1997 đến 2012) là khoảng thời gian được sinh ra của nhóm này. Hầu hết các thành viên của thế hệ Z là con của những người thuộc thế hệ X. Thế hệ Z là thế hệ đầu tiên được cho là lớn lên với sự tiếp cận Internet cùng các thiết bị kỹ thuật số và điện tử từ khi nhỏ.

Thuật ngữ


Thuật ngữ Thế hệ Z được sử dụng lần đầu tiên có thể là trong một bài báo Thời đại quảng cáo vào tháng 9 năm 2000 thảo luận về những thay đổi sẽ diễn ra trong giáo dục trong những năm tiếp theo khi nhóm nhân khẩu học này bước vào trường học. Các tên khác được đề xuất cho thế hệ này bao gồm iGeneration, Gen Tech, Gen Wii, Homeland Generation, Net Gen, Digital Natives, Plurals và Zoomers. Trung tâm nghiên cứu Pew đã khảo sát những cái tên khác cho nhóm nhân khẩu học cụ thể này trên Google Xu hướng năm 2019 và thấy rằng ở Mỹ, thuật ngữ ‘Thế hệ Z’ là từ phổ biến nhất cho đến nay, phổ biến đến mức cả hai từ điển Merriam Webster và Oxford lập nó thành từ ngữ chính thức để chỉ thế hệ này. Theo Từ điển Merriam Webster, Zoomer được sử dụng như biệt danh cho các thành viên của Thế hệ Z có năm sinh nhỏ nhất từ 2016, nhưng vẫn chưa được sử dụng rộng rãi để có thể lập thành từ ngữ chính thức cho từ điển từ tháng 1 năm 2020.

Một nghiên cứu năm 2016 được thực hiện bởi Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ và Trung tâm Nghiên cứu Pew đã sử dụng thuật ngữ “Hậu Millennials”.

Trong một bài viết năm 2016 trên tờ The Australian, Helen Rumbelow nói rằng Thế hệ hoa tuyết (Snowflake Generation) đã bắt đầu như một thuật ngữ ở Hoa Kỳ. Theo Rumbelow, một số cha mẹ đã ấp ủ đứa con của mình như là “những hoa tuyết nhỏ quý giá”, mỗi người đều giống nhau nhưng cũng là duy nhất, hoặc “mọi người đều đặc biệt”. Thuật ngữ “thế hệ hoa tuyết” là một trong các từ của năm của từ điển Collins vào năm 2016. Collins định nghĩa thuật ngữ này là “những người trẻ tuổi (khoảng 20 tuổi) của những năm 2010, được xem là ít kiên cường hơn và dễ tự ái hơn các thế hệ trước.”

Cơ quan thống kê Canada đã lưu ý rằng nhóm này đôi khi được gọi là thế hệ Internet, vì đây là thế hệ đầu tiên được sinh ra sau khi Internet trở nên phổ biến.

Tại Nhật Bản, nhóm thế hệ này được mô tả là Neo-Digital Natives, một bước vượt xa so với nhóm thế hệ trước – những người được mô tả là “Người bản địa kỹ thuật số”. Người bản địa kỹ thuật số chủ yếu giao tiếp bằng văn bản hoặc giọng nói, trong khi Neo-Digital Natives sử dụng video, điện thoại video và phim. Điều này nhấn mạnh sự chuyển đổi từ PC sang di động và chuyển văn bản sang video trong dân số kỹ thuật số mới (neo-digital).

Xác định ngày và độ tuổi


Từ điển Oxford mô tả Thế hệ Z là “thế hệ đến tuổi trưởng thành trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21”. Từ điển trực tuyến Merriam-Webster định nghĩa “Thế hệ Z là thế hệ của những người sinh ra vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”.

Trung tâm nghiên cứu Pew định nghĩa Thế hệ Z là những người sinh từ năm 1997 trở đi, chọn làm ngày cho “những trải nghiệm thay đổi khác nhau”, như sự phát triển của công nghệ mới và xu hướng kinh tế xã hội, bao gồm khả năng truy cập internet không dây và dịch vụ di động băng thông rộng cùng các sự kiện quan trọng của thế giới như các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9. Các thành viên của Thế hệ Z không quá bốn tuổi vào thời điểm xảy ra các vụ tấn công và do đó, họ không có nhiều ký ức về sự kiện này. Pew đã tuyên bố rằng, họ chưa đưa ra điểm cuối của Thế hệ Z, nhưng họ đã sử dụng khoảng thời gian từ 1997 đến 2012 để định nghĩa Thế hệ Z cho một phân tích vào năm 2019. Theo định nghĩa này, vào năm 2020, thành viên lâu đời nhất của Thế hệ Z sẽ 23 tuổi, và người trẻ nhất là 8 tuổi.

Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến khác về khoảng thời gian của Thế hệ Z. Tại Nhật Bản, 15 năm là khoảng thời gian để xác định các thế hệ và cho rằng “Người bản địa Neo-Digital” bắt đầu sau năm 1996. Nhà tâm lý học Jean Twenge mô tả Thế hệ Z là những người sinh năm 1995 trở lên. Forbes và Thời báo Ailen tuyên bố rằng Thế hệ Z “bao gồm những người sinh từ năm 1995 đến năm 2010”. Thống kê Canada thì định nghĩa Thế hệ Z bắt đầu từ năm 1993, họ không công nhận Thế hệ Millennials truyền thống và thay vào đó, Thế hệ Z được xem là thế hệ ngay sau thế hệ “con của những người thuộc Thế hệ bùng nổ trẻ sơ sinh” (Children of Baby Boomers).

Văn hóa và nghệ thuật


Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 và đại suy thoái đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ của thế hệ này ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, không giống như những Millennial lớn tuổi hơn, Thế hệ Z có rất ít ký ức về vụ tấn công khủng bố 11/9. Vì những người lớn tuổi nhất trong nhóm này chưa nhận thức được khi vụ tấn công khủng bố 11/9 xảy ra (hoặc thời điểm đó họ chưa được sinh ra) nên thế hệ này không có ký ức về khoảng thời gian Hoa Kỳ ở trong cuộc chiến với các lực lượng không xác định của khủng bố toàn cầu. Nhà tâm lý học Anthony Turner cho rằng có khả năng cả hai sự kiện đều dẫn đến cảm giác bất ổn và bất an giữa những người thuộc Thế hệ Z với môi trường họ được nuôi dưỡng. Suy thoái kinh tế năm 2008 là sự kiện lịch sự đặc biệt quan trọng với Thế hệ Z, do lúc nhỏ họ có thể bị ảnh hưởng bởi cảm nhận của bố mẹ về áp lực tài chính từ khủng hoảng kinh tế. Một khảo sát năm 2013 bởi Ameritrade cho thấy 47% người ở Hoa Kỳ (từ 14 đến 23 tuổi) quan tâm đến nợ sinh viên, trong khi 36% lo ngại về khả năng chi trả tất cả chi phí cho Đại học. Thế hệ này phải đối mặt với khoảng cách thu nhập ngày càng tăng và tầng lớp trung lưu bị thu hẹp, tất cả dẫn đến tăng mức độ căng thẳng trong gia đình. Theo Hiệp Hội quan hệ công chúng Hoa Kỳ, cuộc đại suy thoái đã dạy có Thế hệ Z trở nên tự lập, và dẫn đến một mong muốn kinh doanh sau khi thấy ba mẹ và các thành viên lớn hơn phải vật lộn trong lực lượng lao động.  

Một nghiên cứu năm 2014 về Thế hệ Z học đại học cho thấy các sinh viên Thế hệ Z tự nhận thấy mình là người trung thành, nhân ái, chu đáo, cởi mở, có trách nhiệm và quyết đoán. Cách họ nhìn những người bạn Thế hệ Z khá khác biệt so với họ tự nhìn bản thân. Họ thấy bạn bè họ là những người cạnh tranh, thanh thoát, thích phiêu lưu và tò mò – tất cả các đặc điểm mà họ không thấy ở chính mình. Ngoài ra, một số tác giả cho rằng một số năng lực của họ như năng lực đọc đang bị biến đổi do sự quen thuộc với các thiết bị số, nền tảng và văn bản.

Năm 2016, Quỹ Varkey và Populus đã thực hiện 1 nghiên cứu quốc tế kiểm tra thái độ của hơn 20,000 người từ 15 đến 21 tuổi ở 20 quốc gia: Ác-hen-ti-na, Úc, Bra-xin, Ca-na-da, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, I-xra-en, Ý, Nhật Bản, Niu Di-lân, Ni-ge-ri- a, Nga, Nam Phi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Họ thấy rằng hầu hết các giá trị cá nhân quan trọng đối với những người này là giúp gia đình và bản thân họ tiến lên trong cuộc sống (cả hai là  27%), tiếp theo là sự trung thực (26%). Nhìn xa hơn cộng đồng địa phương của họ xếp cuối với 6%. Giá trị gia đình đặc biệt mạnh ở Nam Mỹ (34%) trong khi chủ nghĩa cá nhân và tinh thần kinh doanh phổ biến ở Châu Phi (37%). Những người ảnh hưởng đến giới trẻ nhiều nhất là cha mẹ (89%), bạn bè (79%) và giáo viên (70%). Người nổi tiếng (30%) và chính trị gia (17%) xếp cuối cùng. Nhìn chung, nam có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi các vận động viên và chính trị gia hơn nữ, nữ thích sách và nhân vật hư cấu hơn. Văn hóa người nổi tiếng có ảnh hưởng đặc biệt ở Trung Quốc (60%) và Nigeria (71%) khác với Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ (cả hai là 19%). Đối với những người trẻ tuổi, các yếu tố quan trọng nhất cho sự nghiệp hiện tại hoặc tương lai của họ là khả năng mài giũa kỹ năng (24%) và thu nhập (23%) trong khi các yếu tố không quan trọng nhất là sự nổi tiếng (3%) và liệu tổ chức họ có hay không làm việc để tạo ra một tác động tích cực trên thế giới (13%). Các yếu tố quan trọng nhất đối với những người trẻ tuổi khi nghĩ về tương lai của họ là gia đình (47%) và sức khỏe của họ (21%); phúc lợi của thế giới nói chung (4%) và xếp cuối là cộng đồng địa phương của họ (1%).


Luân Đôn được xem là một trong những nơi đáng sống nhất cho Thế hệ Z.

Một nghiên cứu năm 2019 được thực hiện bởi nền tảng cho thuê trực tuyến Nestpick đã xem xét 110 thành phố trên toàn thế giới liên quan đến các yếu tố mà họ tin là quan trọng đối với Thế hệ Z, như bình đẳng xã hội, đa văn hóa và số hóa. Nhìn chung, London, Stockholm, Los Angeles, Toronto, và thành phố New York đứng đầu danh sách. Tuy nhiên, bảng xếp hạng thay đổi liên quan đến từng mục được xét. Oslo, Bergen (Na Uy), Stockholm, Gothenburg và Malmö (Thụy Điển) là những nơi đứng đầu về bình đẳng giới, nhưng Seoul, London, Boston, Stockholm và Los Angeles đáp ứng tốt nhất các mong muốn về kỹ thuật số của Thế hệ Z. Tuy nhiên, Thế hệ Z có xu hướng thực dụng về tài chính và tất cả các thành phố trên có chung một nhược điểm: chi phí sinh hoạt cao. Do đó, chỉ số Nestpick cho Thế hệ Z có thể thay đổi trong những năm tới khi những người này già đi và có những ưu tiên khác nhau.

Theo báo cáo về tiêu thụ và chi tiêu âm nhạc của Thế hệ Z năm 2018 của Sweety High thuộc công ty truyền thông kỹ thuật số Girls Gen Z thì Spotify xếp hạng đầu tiên, đài phát thanh mặt đất xếp thứ hai, trong khi YouTube được báo cáo là nền tảng ưa thích để khám phá âm nhạc của Thế hệ Z. Sử dụng trí thông minh nhân tạo, Joan Serra và nhóm của ông tại Hội đồng nghiên cứu quốc gia Tây Ban Nha đã nghiên cứu về Million Song Dataset và thấy rằng giữa năm 1955 và 2010, nhạc thị trường đã phổ biến hơn trong khi các hợp âm, giai điệu và các loại âm thanh được sử dụng ngày càng trở nên đồng nhất. Trong khi ngành công nghiệp âm nhạc từ lâu đã bị cáo buộc sản xuất các bài hát mang tính thị trường và nhàm chán thì đây là lần đầu tiên chất lượng của các bài hát được nghiên cứu và đo lường toàn diện.

Nhân khẩu học


Thế hệ Z

Châu Phi

Các dự báo thống kê từ Liên Hợp Quốc năm 2019 cho thấy, đến năm 2020, người dân Nigeria sẽ có độ tuổi trung bình là 15,2; Mali 16,3; Chad 16,6; Somalia, Uganda và Angola tất cả là 16,7; Cộng hòa Dân chủ Congo 17,0; Burundi 17.3; Mozambique và cả Zambia là 17.6. (Điều này có nghĩa là hơn một nửa dân số của họ đã được sinh ra trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.) Đây là những quốc gia có độ tuổi trung bình trẻ nhất thế giới. Trong khi dân số bùng nổ có thể tạo ra sự tăng trưởng kinh tế đáng kể, nếu nhu cầu về y tế, giáo dục và kinh tế không được đáp ứng, sẽ có tình trạng thất nghiệp kinh niên ở thanh niên, năng suất thấp và bất ổn xã hội. Đầu tư vào vốn con người là rất quan trọng.

Châu Á

Thế hệ Z
Tháp dân số của Liên minh Châu Âu năm 2016

Đầu những năm 2000, Pháp và Scandinavia vẫn giữ được tỷ lệ sinh cao so với các nước phát triển khác, đặc biệt là Nam Âu và Đông Á. Trước hết, có vẻ như điều này có thể là do các giá trị và chính sách tiến bộ xã hội của họ, tức là giúp phụ nữ dễ dàng theo đuổi cả sự nghiệp và ước mơ sinh con. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng hơn có thể thấy không thể bảo vệ được lập luận “nữ quyền là chủ nghĩa tự sinh mới”, vì một mặt thì có những nước tiến bộ xã hội với tỷ lệ sinh thấp như Áo và Canada, mặt khác là các nước truyền thống, bảo thủ hơn với tỷ lệ sinh cao như Ireland và Hoa Kỳ.

Vào đầu thế kỷ 21, châu Âu có sự già hóa dân số với tốc độ chưa từng thấy. Người ta ước tính rằng vào năm 2050, 40% người châu Âu sẽ ở độ tuổi trên 60. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở phương Đông trong khi ở phương Tây, nó được giảm bớt do sự nhập cư quốc tế. Ngoài ra, ngày càng nhiều trẻ em sinh ra ở châu Âu bởi cha mẹ không phải là người châu Âu. Bởi vì con cái của những người nhập cư ở châu Âu có xu hướng tôn giáo như họ, điều này có thể làm chậm sự suy giảm của tôn giáo (hoặc sự phát triển của chủ nghĩa thế tục) ở lục địa này cùng với sự phát triển của thế kỷ 21. Tại Vương quốc Anh, số lượng cư dân sinh ra ở nước ngoài chiếm 6% dân số vào năm 1991. Di dân sau đó đã tăng và không giảm kể từ năm 2018. Các nghiên cứu của các nhà nhân khẩu học và các nhà khoa học chính trị Eric Kaufmann, Roger Eatwell và Matthew Goodwin cho rằng một sự thay đổi nhân khẩu học nhanh như vậy là một trong những lý do chính đằng sau phản ứng dữ dội của công chúng theo hình thức dân chủ chủ nghĩa dân tộc nổi dậy chống lại các nền dân chủ tự do giàu có, ví dụ như là sự kiện trưng cầu dân ý Brexit năm 2016.

Ý là một quốc gia có vấn đề dân số già đặc biệt nghiêm trọng. Tỷ lệ sinh giảm từ khoảng 4 trong thập niên 1960 xuống còn 1,2 vào những năm 2010. Điều này không phải vì người trẻ Ý không muốn sinh con. Hoàn toàn ngược lại, có nhiều con là một lý tưởng của họ. Nhưng nền kinh tế của họ đã rất ổn định kể từ cuộc Đại suy thoái năm 2007 – 2008, với tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở mức đáng kinh ngạc – 35% vào năm 2019. Nhiều người Ý đã chuyển ra nước ngoài – 150.000 người trong năm 2018 – và rất nhiều người trẻ tuổi theo đuổi các cơ hội kinh tế và giáo dục. Với sự sụt giảm số lượng sinh mỗi năm, dân số Ý dự kiến ​​sẽ giảm trong năm năm tới. Hơn nữa, thế hệ Baby Boomers đang nghỉ hưu với số lượng lớn, và số lượng của họ làm lu mờ những người trẻ chăm sóc họ. Chỉ có Nhật Bản có cấu trúc tuổi nghiêng nhiều hơn về phía người già. Một giải pháp cho vấn đề này là khuyến khích sinh sản, như Pháp đã làm, bằng cách đầu tư vào việc để số ngày nghỉ của phụ huynh dài hơn, vào nhà trẻ và miễn thuế cho cha mẹ. Tính đến năm 2019, Pháp có dân số xấp xỉ với Ý nhưng số lượng sinh nhiều hơn 65%. Một giải pháp khác là nhập cư, đã giảm bớt sự suy giảm, nhưng sẽ chẳng đến đâu nếu không có các phản ứng chính trị.

Hy Lạp cũng gặp vấn đề nhân khẩu học nghiêm trọng khi nhiều người trẻ tuổi rời khỏi đất nước để tìm kiếm cơ hội tốt hơn ở nơi khác. Việc chảy máu chất xám và dân số già đi nhanh chóng có thể gây ra thảm họa cho đất nước này.

Nga có tỷ lệ sinh giảm và dân số giảm mặc dù có nền kinh tế cải thiện sau khi Liên Xô sụp đổ. Theo Liên Hợp Quốc, dân số Nga có thể giảm tới 1/3 vào năm 2050. Các nhà thống kê của chính phủ Nga ước tính vào năm 2005 rằng một cậu bé sinh ra ở đất nước họ năm đó sẽ có cơ hội đón sinh nhật lần thứ 60 của mình do nhiều vấn đề liên quan đến lối sống (như nghiện rượu). Khoảng cách về tuổi thọ giữa phương Tây và Nga bắt đầu trở nên đáng chú ý trong thập niên 1960. Dân số Nga giảm 6% từ giữa những năm 1990 đến đầu những năm 2010.

Từ năm 1990 đến 2019, Iceland có ​​dân số tăng 40,7%, Na Uy tăng 25,9%, Thụy Điển tăng 20,0%, Đan Mạch 13,1%, đảo Greenland 0,8%, Phần Lan 10,9%, Quần đảo Faroe 7,5% và Quần đảo Åland 22,9%.

  • Tháp dân số của Pháp, Hy Lạp và Nga năm 2016
  • Thế hệ Z
    Tháp dân số của Úc năm 2016

    Tổng tỷ suất sinh của Úc đã giảm từ trên 3 trong thời kỳ hậu chiến, xuống mức thay thế (2.1) trong những năm 1970 và xuống dưới mức đó vào cuối những năm 2010 (1.74 vào năm 2017.) Tuy nhiên, nhập cư đã bù đắp những ảnh hưởng của tỷ lệ sinh giảm. Trong những năm 2010, trong số các cư dân của Úc, 5% được sinh ra ở Vương quốc Anh, 2,5% từ Trung Quốc, 2,2% từ Ấn Độ và 1,1% từ Philippines. 84% người mới đến trong năm tài chính 2016 là dưới 40 tuổi, so với 54% những người đã ở trong nước. Giống như các quốc gia thân thiện với người nhập cư khác, chẳng hạn như Canada, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, dân số trong độ tuổi lao động của Úc dự kiến ​​sẽ tăng lên đến khoảng năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động nghỉ hưu (tỷ lệ phụ thuộc) đã đi từ 8 trong những năm 1970 đến khoảng 4 trong những năm 2010. Nó có thể giảm xuống còn 2 vào những năm 2060, tùy thuộc vào mức độ nhập cư. “Dân số càng cao tuổi, càng có nhiều người được hưởng phúc lợi, chúng tôi cần chăm sóc sức khỏe nhiều hơn và có một cơ sở nhỏ hơn để trả thuế”, Ian Harper thuộc Trường Kinh doanh Melbourne đã phát biểu thế với ABC News (Úc). Trong khi chính phủ đã thu hẹp kế hoạch tăng tuổi nghỉ hưu, cắt giảm lương hưu và tăng thuế do sự phản đối của công chúng, áp lực nhân khẩu học vẫn tiếp tục gia tăng khi hiệu ứng đệm của nhập cư đang mất dần. Người Úc đến tuổi vào đầu thế kỷ 21 không muốn có con so với người thế hệ trước vì lý do kinh tế: nợ sinh viên cao hơn, nhà ở đắt đỏ và tăng trưởng thu nhập âm.

    Giáo dục


    Năm 2013, theo tổ chức phi lợi nhuận EducationSuperHighway, chưa đến một phần ba các trường công lập Mỹ có dịch vụ Internet băng thông rộng. Tuy nhiên, đến năm 2019, con số đó đã đạt tới 99%, làm tăng tần suất học tập kỹ thuật số.

    Theo khảo sát của Đại học Northeastern, 81% Thế hệ Z ở Mỹ tin rằng có được bằng đại học là cần thiết để đạt được mục tiêu nghề nghiệp. Khi Thế hệ Z bắt đầu chuẩn bị vào đại học, mối quan tâm hàng đầu của họ là có thể trả được chi phí đào tạo mà không phải vay nợ. Họ nói rằng, khi còn ở trường trung học, họ phải thật chăm chỉ với hy vọng kiếm được học bổng cũng như hy vọng phụ huynh sẽ trả cho các khoản chi phí không được bao gồm trong học bổng. Đồng thời, họ cũng quan tâm đến các chương trình Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị (ROTC) như một phương tiện để trang trải học phí. Theo NeaToday, một ấn phẩm của Hiệp hội Giáo dục Quốc gia, hai phần ba Thế hệ Z đang vào đại học lo lắng về việc khả năng đủ cho đại học. Một phần ba lên kế hoạch dựa vào các khoản tài trợ và học bổng, một phần tư hy vọng rằng bố mẹ họ sẽ trả phần lớn chi phí đại học. Trong khi chi phí trang trải cho đại học là cực kỳ cao đối với hầu hết Thế hệ Z, nhưng theo NeaToday, 65% nói rằng lợi ích nhận được sau khi tốt nghiệp cao hơn so với chi phí mà họ phải bỏ ra. Tính đến năm 2019, tổng số nợ đại học đã vượt quá 1,5 nghìn tỷ đô la, và hai phần ba sinh viên tốt nghiệp đại học đang gánh khoản nợ. Người vay trung bình nợ 37.000 đô la, tăng 10.000 đô la so với mười năm trước. Một khảo sát năm 2019 của TD Ameritrade cho thấy, hơn 30% Thế hệ Z (và 18% Millennials) cho biết họ đã cân nhắc có “gap year” giữa trung học và đại học.

    Thế hệ Z đang cách mạng hóa hệ thống giáo dục về nhiều mặt. Một phần nhờ vào gia tăng sự phổ biến của tinh thần khởi nghiệp và tiến bộ trong công nghệ, các trường trung học và đại học trên toàn cầu bao gồm cả tinh thần khởi nghiệp trong chương trình giảng dạy của họ. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hơn một phần năm thành viên Thế hệ Z quan tâm đến việc theo học một trường thương mại hoặc kỹ thuật thay vì một trường cao đẳng hoặc đại học. Ở Hoa Kỳ ngày nay, học sinh trung học thường được khuyến khích theo học cao đẳng hoặc đại học sau khi tốt nghiệp, trong khi các lựa chọn của trường kỹ thuật và đào tạo nghề thường bị bỏ qua. Theo khảo sát Kinh tế nước Mỹ năm 2018 của CNBC, chỉ 40% người Mỹ tin rằng chi phí tài chính của bằng đại học bốn năm là hợp lý, giảm từ 44% so với năm năm trước. Hơn nữa, chỉ có 50% tin rằng chương trình bốn năm là loại đào tạo tốt nhất, giảm từ 60%, và số người thấy giá trị trong chương trình hai năm đã tăng từ 18% lên 26%. Những phát hiện này phù hợp với các báo cáo khác.

    Các thành viên của Thế hệ Z rất nóng lòng chọn các chuyên ngành dạy cho họ các kỹ năng thị trường. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), khoảng 88% xem chuẩn bị cho công việc là điểm chính của học đại học. Có 39% đang nhắm đến một nghề nghiệp trong y dược hoặc chăm sóc sức khỏe, 20% trong khoa học tự nhiên, 18% trong sinh học hoặc công nghệ sinh học và 17% trong kinh doanh. Một cuộc thăm dò của Gallup năm 2018 với hơn 32.000 sinh viên đại học được chọn ngẫu nhiên từ 43 trường ở khắp Hoa Kỳ cho thấy, chỉ hơn một nửa (53%) trong số họ nghĩ rằng ngành học họ chọn sẽ mang lại cho họ công việc có thu nhập cao. Sinh viên STEM, viết tắt của Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Maths), thể hiện sự tự tin cao nhất (62%) trong khi những người theo nghệ thuật tự do ít tự tin nhất (40%). Chỉ hơn một phần ba nghĩ rằng họ sẽ học được các kỹ năng và kiến ​​thức cần thiết để trở nên thành công tại nơi làm việc.

    Triển vọng việc làm và xu hướng kinh tế


    Sự phát triển toàn cầu

    Năm 2018, khi số lượng robot làm việc tiếp tục tăng, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu giảm xuống 5,2%, thấp nhất trong 38 năm. Xu hướng hiện nay cho thấy sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và robot sẽ không dẫn đến thất nghiệp hàng loạt nhưng lại có thể tạo ra những việc làm đòi hỏi tay nghề cao. Tuy nhiên, để tận dụng tình huống này, người ta cần có một nền văn hóa và một hệ thống giáo dục thúc đẩy việc học tập lâu dài. Những kỹ năng cần rèn luyện lâu dài mà máy móc chưa thành thạo, như là làm việc nhóm và giao tiếp hiệu quả, sẽ rất quan trọng.

    Cha mẹ của Thế hệ Z có thể nghĩ rằng doanh nghiệp đầu tiên của con họ là những quầy bán nước chanh hay tiệm rửa xe. Có thể đây là những doanh nghiệp đầu tiên tuyệt vời, tuy nhiên Thế hệ Z hiện nay có khả năng truy cập vào các nền tảng truyền thông xã hội, là người xây dựng các trang web, sử dụng máy in 3D và các nền tảng vận chuyển cung cấp cho họ cơ hội bổ sung để bắt đầu kinh doanh khi còn trẻ. Internet đã cung cấp các cửa hàng cho Thế hệ Z để bán ý tưởng của họ cho mọi người trên khắp thế giới mà không cần phải rời khỏi nhà của họ.

    Khi sự tiến bộ công nghệ tiếp tục, sự xuất hiện hoặc đột phá của trí tuệ nhân tạo, robot, in ba chiều, công nghệ nano, điện toán lượng tử, xe tự hành, trong số các lĩnh vực khác, là đỉnh cao trong cái mà nhà kinh tế Klaus Schwab gọi là ‘Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư’, nhu cầu về những người lao động sáng tạo, có trình độ học vấn cao và có tay nghề cao tiếp tục tăng, cũng như thu nhập của họ. Mặt khác, nhu cầu về lao động lương thấp và tay nghề thấp, sẽ tiếp tục giảm.   

    Bằng cách phân tích dữ liệu từ Liên hợp quốc và Chỉ số cạnh tranh Tài năng toàn cầu, KDM Engineering cho thấy tính đến năm 2019, 5 quốc gia hàng đầu cho lao động có trình độ cao quốc tế là Thụy Sĩ, Singapore, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Thụy Điển. Các yếu tố được tính đến bao gồm khả năng thu hút lao động nước ngoài có tay nghề cao, thân thiện với doanh nghiệp, môi trường pháp lý, chất lượng giáo dục và mức sống. Thụy Sĩ là tốt nhất trong việc giữ chân nhân tài do chất lượng cuộc sống tuyệt vời của nó. Singapore là nơi có môi trường đẳng cấp thế giới cho các doanh nhân. Và Hoa Kỳ cung cấp nhiều cơ hội nhất để tăng trưởng do quy mô kinh tế, chất lượng giáo dục và đào tạo đại học. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), tính đến năm 2019, đây là những nước có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới. Để xác định khả năng cạnh tranh kinh tế của một quốc gia hoặc lãnh thổ, WEF xem xét các yếu tố như độ tin cậy của các tổ chức công, chất lượng cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng y tế, sự năng động trong kinh doanh, hiệu quả thị trường lao động và năng lực đổi mới.

    Châu Á

    Thống kê từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tiết lộ rằng từ năm 2014 đến 2019, tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản đã giảm từ khoảng 4% xuống 2,4% và của Trung Quốc từ gần 4,5% xuống 3,8%. Đây là những tỷ lệ thấp nhất trong số các nền kinh tế hàng đầu.

    Khi lên nắm quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố sẽ xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và các tầng lớp xã hội. “Tiền cũ” đã không còn tồn tại ở Trung Quốc do kết quả của một nền kinh tế kế hoạch tập trung. Nhưng điều đó đã thay đổi vào những năm 1980 khi Đặng Tiểu Bình đưa ra những cải cách kinh tế; tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã nở rộ kể từ đó. Trên thực tế, ông coi việc làm giàu là “vinh quang”. Các thành phố của Trung Quốc đã biến thành các trung tâm mua sắm lớn. Số lượng tỷ phú (bằng đô la Mỹ) ở Trung Quốc đang tăng nhanh hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, đến nỗi xuất hiện các học viện quản gia, những sinh viên sẽ phục vụ ‘người giàu mới’, và những trường học lễ nghi cho phụ nữ trẻ thuộc giới quý tộc trước khi bước ra xã hội, của những học sinh có cha mẹ giàu có, đã được thành lập. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Thế giới, 27% người Trung Quốc vẫn sống dưới mức nghèo khổ. Chính phủ trung ương Trung Quốc hứa sẽ chấm dứt nghèo đói vào năm 2020. Chiến dịch chống tham nhũng của Chủ tịch Tập Cận Bình cũng trấn áp được những gì ông coi là ‘sự phô trương của cải’. Hơn nữa, các thành viên của giới thượng lưu Trung Quốc phải liên kết chặt chẽ với Đảng Cộng sản. Một số doanh nhân trẻ Trung Quốc đã tận dụng Internet để trở thành những người có ảnh hưởng trên phương tiện truyền thông xã hội để bán sản phẩm của họ.

    Các công ty công nghệ và khởi nghiệp đang bùng nổ ở Trung Quốc và Đông Nam Á. Trong khi trước đây, các công ty Trung Quốc đã sao chép các chiến lược và mô hình kinh doanh từ các đối tác Hoa Kỳ, bây giờ, họ đang phát triển các phương pháp của riêng họ và các công ty Đông Nam Á đang học hỏi từ thành công và kinh nghiệm của họ, một thực tiễn được gọi là “Sao chép từ Trung Quốc”. Thương mại điện tử đã phát triển mạnh mẽ. Ví dụ, ở Singapore, không chỉ có thể đặt hàng trực tuyến, người ta còn có thể mua đồ tạp hóa trực tiếp, thanh toán bằng điện thoại di động và đóng gói bằng máy; không có nhân viên thu ngân. Trong khi người phương Tây lần đầu tiên được giới thiệu với Internet bằng cách thông qua máy tính cá nhân của họ, thì người dân ở Trung Quốc và Đông Nam Á lần đầu tiên trực tuyến thông qua điện thoại di động của họ. Do đó, việc sử dụng cao độ các ứng dụng di động của ngành thương mại điện tử đã mang đến những kết quả xứng đáng. Cụ thể, các doanh nhân Trung Quốc đầu tư vào “siêu ứng dụng” – những ứng dụng cho phép người dùng truy cập tất cả các loại dịch vụ trong đó, không chỉ nhắn tin mà còn cho thuê xe đạp và ví kỹ thuật số. Ở Indonesia, việc dựa vào thanh toán bằng thẻ tín dụng khá khó khăn vì khả năng thâm nhập thị trường của công nghệ này vẫn còn khá thấp (tính đến năm 2019). Tuy nhiên, thương mại điện tử và dịch vụ gọi xe vẫn đang phát triển ở đây. Nhưng Singapore mới là trung tâm khởi nghiệp của khu vực, nhờ cơ sở hạ tầng tuyệt vời, sự hỗ trợ của chính phủ và nguồn vốn dồi dào. Hơn nữa, các công ty công nghệ Singapore “có vị trí độc nhất” để học hỏi từ cả Mỹ và Trung Quốc.

    Thế hệ Z của Trung Quốc đã tận dụng nhiều lựa chọn cho vay có sẵn cho họ, mặc dù với chi phí lãi suất cực cao và có thể là bất hợp pháp. Mặc dù các nhà chức trách đã đàn áp những người cho vay tiền đáng ngờ, nhưng vẫn còn có rất nhiều cách vay tiền khác. Theo Bloomberg, tỷ lệ nợ hộ gia đình trên GDP của Trung Quốc đã tăng từ 27% năm 2010 lên 57% vào năm 2019. So sánh với các nước khác, nợ hộ gia đình là 126% GDP ở Úc, 99% ở Hàn Quốc và 75% ở Hoa Kỳ, theo Ngân hàng Mỹ (Bank of America). Tuy nhiên, Fitch Ratings ước tính rằng tốc độ tăng trưởng gấp đôi GDP danh nghĩa. Theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, tỷ lệ thu nhập từ nợ phải trả của quốc gia này là 99,9% trong năm 2019, tăng 93,4% so với năm trước.

    Châu Âu

    Ở châu Âu, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của Pháp và Ý vẫn tương đối cao, nhưng chúng thấp hơn rõ rệt so với trước đây. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức thậm chí đã giảm xuống dưới mức của Hoa Kỳ, một mức độ chưa từng thấy kể từ khi thống nhất gần ba thập kỷ trước. Báo cáo của Eurostat vào năm 2019 rằng tỷ lệ thất nghiệp chung trên toàn Liên minh châu Âu đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1 năm 2000, ở mức 6,2% trong tháng 8, có nghĩa là có khoảng 15,4 triệu người thất nghiệp. Cộng hòa Séc (3%), Đức (3,1%) và Malta (3,3%) được hưởng mức thất nghiệp thấp nhất. Các quốc gia thành viên có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là Ý (9,5%), Tây Ban Nha (13,8%) và Hy Lạp (17%). Các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với năm 2018 là Đan Mạch (từ 4,9% đến 5%), Litva (6,1% đến 6,6%) và Thụy Điển (6,3% đến 7,1%).

    Vào tháng 11 năm 2019, Ủy ban Châu Âu bày tỏ lo ngại về việc một số quốc gia thành viên đã “không thể đưa tài chính của mình vào trật tự”. Bỉ, Pháp và Tây Ban Nha có tỷ lệ nợ trên GDP gần như 100% trong khi Ý là 136%. Theo quy định của EU, các quốc gia thành viên phải thực hiện các bước để giảm nợ công nếu vượt quá 60% GDP. Ủy ban khen ngợi Hy Lạp vì đã đạt được tiến bộ trong phục hồi kinh tế.

    Thế hệ Z
    Học sinh tiểu học năm 2008, những thành viên đầu tiên của Thế hệ Z, đang sử dụng laptop. Thế hệ Z là thế hệ đầu tiên có quyền truy cập rộng rãi vào Internet ngay khi còn nhỏ.

    Thế hệ Z là thế hệ đầu tiên có sẵn công nghệ Internet ngay từ nhỏ. Với cuộc cách mạng web xảy ra trong suốt những năm 1990, họ đã tiếp xúc với một lượng công nghệ chưa từng có trong suốt quá trình lớn lên, cùng với việc sử dụng các thiết bị di động được phát triển cấp số nhân theo thời gian. Anthony Turner mô tả, Thế hệ Z có “mối liên kết kỹ thuật số với Internet” và lập luận rằng, điều đó có thể giúp thanh thiếu niên thoát khỏi những cuộc đấu tranh về cảm xúc và tinh thần mà họ phải đối mặt ở hiện thực.

    Theo Sparks và Honey, chuyên gia tư vấn của Mỹ, vào năm 2014, 41% Thế hệ Z dành hơn ba giờ mỗi ngày để sử dụng máy tính cho các mục đích khác ngoài việc học, tăng 19% so với năm 2004. Trong năm 2015, ước tính có 150,000 app, 10% số đó đến từ App Store của Apple, mang tính giáo dục, nhắm đến đối tượng từ trẻ em đến trình độ đại học, mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về việc liệu kết quả sẽ là liên quan sâu hơn về việc học và phát triển bản thân, hay sẽ trở nên kém hiệu quả khi bị phụ thuộc vào công nghệ và thiếu sự tự điều chỉnh, gây cản trở sự phát triển của trẻ em. Phụ huynh của Thế hệ Z lo ngại việc lạm dụng Internet, truy cập thông tin và hình ảnh không phù hợp cũng như các trang mạng xã hội nơi trẻ em có thể tiếp cận với mọi người trên khắp thế giới. Trẻ em thì cảm thấy khó chịu và phàn nàn về việc bố mẹ kiểm soát quá mức khi chúng sử dụng Internet.

    Trong một cuộc nói chuyện của TEDxHouston, Jason Dorsey, thuộc Trung tâm Động lực học Thế hệ, nhấn mạnh sự khác biệt đáng chú ý trong cách Millennials và Thế hệ Z sử dụng công nghệ, với 18% Thế hệ Z cảm thấy rằng một đứa trẻ 13 tuổi đã có thể có điện thoại thông minh, trong khi chỉ 4% Millennials đồng ý điều này. Một tờ báo trực tuyến về nhắn tin, SMS và MMS viết rằng, thanh thiếu niên sở hữu điện thoại di động mà không thật sự cần chúng; việc nhận điện thoại được xem là một nghi thức ở vài quốc gia, cho phép chủ sở hữu có thể kết nối với những người cùng địa vị, và bây giờ nó lại trở thành một quy tắc xã hội: có điện thoại thông minh ngay khi còn nhỏ. Một bài viết từ Trung tâm nghiên cứu Pew tuyên bố rằng “gần ba phần tư thanh thiếu niên sở hữu hoặc có quyền truy cập vào điện thoại thông minh, và 30% có điện thoại cơ bản, trong khi chỉ có 12% thanh thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi nói rằng họ không có điện thoại di động.” Những con số này đang không ngừng tăng lên và thực tế là, “sở hữu một chiếc điện thoại di động” đã trở thành đặc điểm xác định cho thế hệ này.

    Do đó, “24% thanh thiếu niên lên mạng ‘gần như liên tục’.” Một cuộc khảo sát các sinh viên từ 79 quốc gia của OECD cho thấy rằng, thời gian sử dụng một thiết bị điện tử đã tăng lên, từ dưới hai giờ mỗi ngày trong năm 2012 đến gần ba giờ mỗi ngày năm 2019.

    Trình độ kỹ thuật số

    Mặc dù được gắn nhãn là “người bản địa kỹ thuật số”, nhưng theo Nghiên cứu Kiến thức Máy tính và Thông tin Quốc tế (ICILS) năm 2018, được thực hiện trên 42.000 học sinh lớp tám (hoặc tương đương) từ 14 quốc gia và hệ thống giáo dục, cho thấy chỉ 2% những người này đủ thành thạo với các thiết bị thông tin và chỉ 19% có thể làm việc độc lập với máy tính để thu thập thông tin và quản lý công việc của họ.

    ICILS đánh giá học sinh theo hai mục chính: Tin học và Thông tin (CIL) và Tư duy tính toán (CT). Đối với CIL, có bốn cấp độ, một đến bốn, với Cấp độ 4 là cao nhất. Mặc dù ít nhất 80% học sinh từ hầu hết các quốc gia được kiểm tra đạt Cấp độ 1, nhưng chỉ có hai phần trăm trung bình đạt Cấp độ 4. Các quốc gia hoặc hệ thống giáo dục có học sinh đạt gần hoặc trên mức trung bình quốc tế (496) ở CIL, theo thứ tự tăng dần là Pháp, North Rhine Westphalia, Bồ Đào Nha, Đức, Hoa Kỳ, Phần Lan, Hàn Quốc, Moscow và Đan Mạch.

    CT được chia thành ba cấp độ, Cấp độ Trên, Giữa và Dưới. Trung bình quốc tế cho tỷ lệ học sinh đạt được ở mỗi cấp độ này lần lượt là 18%, 50% và 32%. Các quốc gia hoặc hệ thống giáo dục có học sinh đạt gần hoặc trên mức trung bình quốc tế (500), theo thứ tự tăng dần là Hoa Kỳ, Pháp, Phần Lan, Đan Mạch và Hàn Quốc. Nhìn chung, nữ sinh lớp tám vượt trội hơn so với các nam sinh trong CIL với mức trung bình quốc tế là 18 điểm nhưng bị nam sinh vượt xa trong CT. Tại Hoa Kỳ, nơi các bài kiểm tra trên máy tính được quản lý bởi Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia, 72% học sinh lớp tám cho biết họ đã tìm kiếm thông tin trên Internet ít nhất một lần tuần hoặc mỗi ngày học, và 65% nói rằng họ tự học cách tìm kiếm thông tin trên Internet.

    Mạng xã hội

    Việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của hầu hết người thuộc Thế hệ Z, với mục đích chủ yếu là nhằm giữ liên lạc với bạn bè và gia đình. Do đó, công nghệ di động đã khiến sự phát triển của mối quan hệ trực tuyến trở thành một chuẩn mực thế hệ mới. Thế hệ Z sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và các trang web khác để tăng cường liên kết với bạn bè và phát triển thêm các mối quan hệ mới, tương tác với những người mà họ không gặp trong thế giới thực. Tuy nhiên, theo Twenge, một mặt tiêu cực của thiết bị di động đối với Thế hệ Z chính là việc ít “gặp mặt trực tiếp” hơn, do đó, họ cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.

    Nghiên cứu nhóm tập trung (focus group) cho thấy rằng, dù thanh thiếu niên có thể bị làm phiền bởi nhiều khía cạnh của Facebook, họ vẫn sẽ tiếp tục sử dụng nó vì nó có sự tham gia rất quan trọng trong việc giao tiếp với bạn bè và đồng nghiệp. Twitter và Instagram đang trở nên phổ biến giữa các thành viên của Thế hệ Z, với 24% (và đang tiếp tục tăng) thanh thiếu niên có quyền truy cập Internet có tài khoản Twitter. Điều này một phần là do cha mẹ thường không sử dụng các trang mạng xã hội này. Snapchat cũng thu hút được Thế hệ Z vì video, hình ảnh và tin nhắn gửi nhanh hơn nhiều so với tin nhắn thông thường. Tốc độ và độ tin cậy là những yếu tố quan trọng khi các thành viên của Thế hệ Z lựa chọn nền tảng mạng xã hội. Nhu cầu giao tiếp nhanh này được thể hiện qua các ứng dụng Thế hệ Z phổ biến như Vine và việc sử dụng biểu tượng cảm xúc.

    Một nghiên cứu của Gabrielle Borca phát hiện ra rằng, thanh thiếu niên năm 2012 có nhiều khả năng chia sẻ các loại thông tin khác nhau hơn so với thanh thiếu niên năm 2006. Tuy nhiên, họ sẽ thực hiện các bước để bảo vệ thông tin mà họ không muốn chia sẻ, cũng như thực hiện việc “theo dõi” người khác trên phương tiện truyền thông xã hội nhiều hơn là “chia sẻ”. Một cuộc khảo sát về thanh thiếu niên Hoa Kỳ từ công ty quảng cáo J. Walter Thomson cũng cho thấy rằng, phần lớn thanh thiếu niên quan tâm đến việc bài đăng của họ sẽ được mọi người hoặc bạn bè của họ cảm nhận như thế nào. 72% số người được hỏi cho biết họ đang sử dụng phương tiện truyền thông xã hội hàng ngày và 82% cho biết họ đã suy nghĩ cẩn thận về những gì họ đăng trên phương tiện truyền thông xã hội. Hơn nữa, 43% cho biết họ đã hối hận về các bài viết trước đó.

    Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2017 báo cáo rằng, việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội của thế hệ này có thể liên quan đến sự cô đơn, lo lắng và nhạy cảm. Theo báo cáo CDC năm 2018, các cô gái bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh tiêu cực của phương tiện truyền thông xã hội hơn so với các chàng trai. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Essex đã phân tích dữ liệu 10.000 gia đình, từ 2010 – 2015, đánh giá sức khỏe tinh thần của họ dựa theo hai quan điểm: Vui vẻ và Hạnh phúc trong các quan điểm xã hội, gia đình và giáo dục. Trong mỗi gia đình, họ đã kiểm tra những đứa trẻ từ 10 đến 15 tuổi trong những năm này. Ở độ tuổi 10, 10% đối tượng nữ báo cáo sử dụng phương tiện truyền thông xã hội, trong khi điều này chỉ đúng với 7% đối tượng nam. Đến năm 15 tuổi, con số này đã nhảy vọt lên 53% đối với bé gái và 41% đối với bé trai. Điều này có thể giải thích lý do tại sao nhiều cô gái báo cáo đã trải qua việc bị đe dọa trực tuyến, giảm lòng tự trọng và sự bất ổn về cảm xúc nhiều hơn so với các đối tượng là nam.

    Các nhà nghiên cứu khác đưa ra giả thuyết rằng, các cô gái bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội vì cách họ sử dụng nó. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2015 đã phát hiện ra rằng, trong khi 78% cô gái nói rằng họ kết bạn qua phương tiện truyền thông xã hội, thì chỉ có 52% chàng trai nói như vậy. Tuy nhiên, đến 57% các chàng trai kết bạn thông qua các video game, trong khi điều này chỉ đúng với 13% các cô gái. Một khảo sát khác của Trung tâm nghiên cứu Pew được thực hiện vào tháng 4 năm 2015, báo cáo rằng phái nữ có nhiều khả năng sử dụng Pinterest, Facebook và Instagram hơn nam giới. Ngược lại, đàn ông sử dụng nhiều hơn các diễn đàn trực tuyến, các nhóm trò chuyện điện tử và Reddit hơn phụ nữ.

    Bắt nạt trên mạng ở Thế hệ Z phổ biến hơn so với Millennials. Nó phổ biến hơn ở các bé gái, 22% so với 10% đối với bé trai. Điều này dẫn đến việc các cô gái trẻ cảm thấy dễ bị tổn thương và cô lập hơn.

    Hẹn hò trực tuyến

    Theo Trung tâm nghiên cứu Pew, mặc dù chỉ có một số lượng không đáng kể người hẹn hò trực tuyến vào năm 2005, nhưng số này đã tăng lên 11% vào năm 2013 và sau đó là 15% vào năm 2015. Sự gia tăng này chủ yếu do những người từ 18 đến 24 tuổi, sử dụng các phần mềm hẹn hò trực tuyến gần như tăng gấp ba, và những người ở độ tuổi 55 đến 64 gấp đôi. Thái độ đối với hẹn hò trực tuyến đã được cải thiện, mặc dù các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến cho biết chỉ có 5% những người này kết hôn hoặc có mối quan hệ cam kết với người mà họ gặp trực tuyến.

    Bài viết liên quan


    • Thế hệ 9X
    • Khoảng cách thế hệ

    Chú thích


    —end—

Back to top button